Cáp quang multimode được chia thành nhiều loại như cáp OM1-OM2-OM3-OM4 hoặc theo số sợi như Cáp quang 4 sợi, cáp quang 8Fo | Cáp quang Multimode

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "CAUTHANGPHOBIEN.MATBANGCHOTHUE.ORG", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Cáp quang Multimode: 0974.002.002



Ống đệm bảo vệ là một trong các thành phần cấu tạo cơ bản của sợi quang, được chia làm hai loại chính là ống đệm chặt (tigh buffer) và ống đệm lỏng (loose tube). Mỗi loại sở hữu những đặc điểm nổi trội riêng phù hợp cho những môi trường khác nhau.

Ống đệm chặt

Ống đệm chặt là một lớp chất dẻo, bao bọc luôn cả lớp bảo vệ (coating). Trong thiết kế ống đệm chặt, coating là một lớp chất dẻo mềm cung cấp độ bền, dẻo dai và giảm ngoại lực tác động lên sợi quang. Ống đệm bên ngoài cứng hơn, giúp tăng cường khả năng bảo vệ vật lý.

Ống đệm chặt đảm bảo cố định sợi quang, giúp người thi công dễ dàng tiến hành bấm đầu cáp. Khi có cùng số lượng sợi quang, cáp quang sử dụng ống đệm chặt sẽ có kích thước nhỏ hơn so với cáp quang sử dụng ống đệm lỏng. Tuy nhiên, ưu điểm này sẽ không còn khi số lượng sợi quang tăng lên, vì ống đệm lỏng cho phép chứa nhiều sợi quang bên trong một ống đệm hơn (tối đa 12 sợi quang).

Ưu điểm chính của cáp quang sử dụng ống đệm chặt là phù hợp cho môi trường trong nhà do chất liệu cấu thành nó đều đáp ứng các yêu cầu về an toàn điện, hỏa hoạn. Ngoài ra, dù có suy hao nhiều hơn so với ống đệm lỏng, nhưng ở khoảng cách ngắn như môi trường trong nhà thì cáp quang sử dụng ống đệm chặt vẫn đáp ứng tốt.

Ống đệm lỏng

Ống đệm lỏng có cấu trúc là ống trụ tròn dài Học bằng chất dẻo, với đường kính mặt trong có kích thước lớn hơn đường kính sợi quang. Sợi quang được đặt trong một cấu trúc xoắn lỏng (loose helix) nên có thể di chuyển tự do trong ống. Thiết kế này bảo vệ sợi quang khỏi áp lực tác động lên cấu trúc cáp trong quá trình thi công, bao gồm những ảnh hưởng do thay đổi nhiệt độ môi trường – nguyên nhân chính gây suy hao tại điểm uốn cong cáp hoặc gây hư hỏng cáp.

Có nhiều phương pháp triển khai ống đệm lỏng: các sợi quang có thể đặt trong cùng một ống, hoặc đặt riêng từng ống hoặc nhóm lại thành hoặc nhiều hàng (ribbon). Thông thường, mỗi ống đệm lỏng sẽ chứa tối đa 12 sợi quang, sợi quang đặt trong ống và ống sẽ tuân theo chuẩn mã màu.

Bên trong các ống đệm lỏng lấp đầy hợp chất chống thấm nước. Nếu có nhiều ống đệm lỏng thì giữa chúng sẽ được bao phủ một lớp gel bôi trơn.

Cáp có cấu trúc ống đệm lỏng thích hợp cho môi trường ngoài trời, có thể triển khai thi công ở nhiều vị trí như đi treo, đi chôn trong ống hoặc chôn trực tiếp dưới đất.

Tại Việt Nam, các kết nối Internet quốc tế hiện tại, cũng tương tự nhiều nước khác trên thế giới, chủ yếu phụ thuộc vào các đường cáp quang biển. Các tuyến cáp chính bao gồm tuyến AAG (Asia-America Gateway), TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hongkong) và SMW3 (hay còn gọi là SEA-ME-WE3). Trong các tuyến cáp quang biển này, trừ đường SMW3 đi theo chiều kết nối từ Châu Á sang Ấn Độ, vào Châu Âu, các tuyến còn lại đi theo hướng sang Châu Mỹ qua đảo Guam và Hawaii.



Cho đến ngày 8/3, các đường cáp này đều từng gặp sự cố, gây ảnh hưởng đến kết nối Internet giữa Việt Nam và thế giới. Trong đó, tuyến SMW3 tuy gặp một số sự cố như đứt đường truyền tại Pakistan, đứt cáp trong vụ động đất ngày 26/12/2006… nhưng hầu như chưa trực tiếp ảnh hưởng đến việc truyền dẫn dữ liệu với Việt Nam. Tuyến TVH vào tháng 3/2007 đã bị cắt trộm 11 km cáp cùng một số thiết bị đi cùng tại vùng biển Cà Mau. Việc đứt cáp TVH vào thời điểm đó đã gây ảnh hưởng cực kì nghiêm trọng đến việc truyền dẫn tín hiệu Internet quốc tế với Việt Nam do phải phụ thuộc vào tuyến SMW3 duy nhất còn lại. Điều đáng buồn là 11 km cáp quang này (vào khoảng 100 tấn, trị giá khoảng 6,8 triệu USD) sau đó được phát hiện bị đem bán với giá phế liệu. Tại thời điểm hiện tại, sự cố với đường cáp AAG tuy chưa được các nhà chức trách xác nhận nhưng nhiều người tin rằng có nguyên nhân do con người hơn là nguyên nhân tự nhiên. Bên cạnh đó, cần biết rằng sự cố với đường cáp quang biển thiệt hại không chỉ là đoạn cáp bị mất hoặc đứt gãy mà việc lắp đặt lại, thay mới thiết bị đi kèm là tổn thất rất đáng kể.

Dù với lí do khách quan hay chủ quan, rõ ràng đã đến lúc phải nhìn nhận lại về vấn đề kết nối thông tin toàn cầu vì việc đứt cáp quang biển không phải là vấn đề riêng tại Việt Nam khi mà bảo vệ đường cáp trên biển không phải là chuyện dễ dàng. Tuy nhiên, có lẽ cho đến khi có một giải pháp khả thi hơn, người dùng vẫn chỉ biết cầu mong không có thêm sự cố nào xảy đến với hai đường cáp còn lại cũng như đường cáp AAG sớm được phục hồi.

Gần đây, tuy việc kết nối qua vệ tinh đã được triển khai tại nhiều vùng và thử nghiệm trên diện rộng tại một số quốc gia, cáp quang biển vẫn giữ vai trò trọng yếu trong kết nối thông tin toàn cầu. Đến năm 2006, các liên lạc qua vệ tinh vẫn chỉ chiếm khoảng 1% lưu lượng thông tin quốc tế toàn cầu. Điều này cũng không lạ khi cho đến thời điểm hiện tại, lưu lượng truyền tải của các đường cáp quang có thể đạt đến hàng terabit/giây trong khi chỉ vào hàng megabit/giây với độ trễ cao hơn rất nhiều trên đường truyền vệ tinh. Thực tế cho thấy phụ thuộc vào các đường cáp quang quốc tế là vô cùng to lớn và bất kì sự cố nào ảnh hưởng đến các tuyến cáp xuyên biển cũng sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng. Vì thế, để đảm bảo an toàn, thông suốt trong các kết nối thông tin, một quốc gia thường có nhiều tuyến cáp liên kết với các cổng Internet thế giới.

Đường dây cáp hiện nay mỏng hơn nhiều – khoảng 3 inch. Tại điểm sâu nhất ở rãnh Nhật Bản, cáp quang đi sâu tới 8,000m trong đại dương. Đó cũng là chiều cao của núi Everest.

Vỏ bao gồm (theo thứ tự 1 – 8): Polyethylene, băng Mylar, dây kim loại (thép), chắn nước bằng nhôm, Polycarbonate, đồng hoặc nhôm ống, thạch dầu khí (giúp bảo vệ cáp khỏi nước), sợi quang học.

Cáp quang biển có nhiều ưu điểm như vậy nhưng khi lắp đặt hệ thống cáp quang biển gặp một số vấn đề khó khăn như: Chi phí cao và kết nối khó khăn. Trước hết, do đặc tính cấu tạo, giá thành bản thân cáp quang cùng các thiết bị đi kèm đã cao. Tiếp đến, do kết nối xuyên lục địa qua các đại dương, việc lắp đặt luôn chứa đựng nhiều vấn đề khó khăn, từ tìm kiếm khu vực đáy biển phù hợp cho đến tránh kết nối vào lúc thời tiết xấu. Ngoài ra, do chính đặc tính truyền dẫn ánh sáng, dây cáp cần được kéo thẳng, tránh bị gấp khúc hay gặp phải vật cản.

Nhờ vào những khoản đầu tư khổng lồ từ những công ty đang tìm kiếm để khai thác, hệ thống cáp quang dưới biển hiện nay đã trở thành những đường dây thương mại hiện đại bậc nhất.



Ví dụ như hãng công nghệ khổng lồ như Google đã đầu tư tới 300 triệu USD vào hệ thống cáp xuyên Thái Bình Dương để di chuyển dữ liệu nhanh hơn. Hay ngay cả Facebook cũng đầu tư rất nhiều tiền của vào hệ thống cáp quang ở Châu Á.

Không có nhiều thay đổi trong những năm qua. Các tàu trở cáp di chuyển dọc theo đại dương rồi từ từ tháo cáp để chúng chìm xuống đáy biển. SS Great Eastern là công ty đầu tiên thành công đặt một dây cáp quang xuyên Thái Bình Dương vào năm 1866. Lúc đó, cáp quang được sử dụng để truyền tải thông tin điện báo. Từ năm 1956, đường dây này bắt đầu truyền tải các tín hiệu điện thoại.

Cáp quang ra đời vào năm 1966 và được các công ty viễn thông triển khai sử dụng vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, chỉ đến thập niên 90 của thế kỉ XX, Internet mới thực sự khiến công nghệ cáp quang bùng nổ.

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁP QUANG BIỂN

Hệ thống cáp quang dưới biển thường được ưa chuộng hơn truyền hình vệ tinh vì tốc độ và độ tin cậy của hệ thống này khá cao, hiếm khi bị hỏng. Nhờ vào tốc độ cao, loại cáp quang này luôn có thể cung cấp và hỗ trợ các đường dây dự phòng có sẵn.

Cáp quang biển được dùng để

Cáp quang Multimode

Dây cáp quang multimode (hay có tên gọi khác là cáp quang đa mode) là một trong hai loại dây cáp phổ biến của cáp quang (bên cạnh cáp quang Singlemode) được sử dụng hiện nay và đang dần thay thế các sản phẩm cáp đồng trong hệ thống mạng cần tốc độ cao hiện nay. Multimode graded index (chiết suất bước): phần lõi có chỉ số khúc xạ giảm dần từ trong ra ngoài trong lớp cladding, các tia ở gần trục truyền chậm hơn các tia gần cladding, các tia di chuyển theo đường cong thay vì zig-zag. Ở loại này, xung sẽ ít bị méo dạng hơn do các chùm tia tại điểm hội tụ.
SEO giá rẻ Để quý khách hàng nắm được các bước của quy, Thiết kế web chuẩn SEO là dịch vụ chính và nổi trội nhất. Chúng tôi cam kết mang lại cho khách hàng một website chuyên nghiệp và toàn diện nhất
cầu thang sắt Cầu thang sắt mỹ thuật CTV - SMT03, Nhược điểm duy nhất của lan can sắt nghệ thuật đó là việc vệ sinh lau chùi khó khăn hơn so với các loại cầu thang khác. Với những chi tiết uốn lượn tinh

Bộ quay số điện thoại tự động

Được lắp trong trung tâm báo cháy, khi nhận được thông tin báo cháy từ trung tâm thiết bị sẽ tự động quay số điện thoại đã được cài đặt trước để thông báo đến người chịu trách nhiệm chính. Thông thường quay được từ 3 tới hơn 10 số.

3.6 Bàn phím điều khiển (Keypad):
Là phương tiện để điều khiển mọi hoạt động của hệ thống. Qua bàn phím, bạn có thể điều khiển hoạt động theo ý muốn một cách dễ dàng, như nhập lệnh đưa hệ thống vào chế độ giám sát, hoặc có thể ngưng chế độ giám sát một số khu vực trong toàn bộ hệ thống, hoặc có thể lập trình để hệ thống tự động chuyển sang chế độ giám sát vào một thời gian nhất định trong ngày đối với một số khu vực nào đó.

2.1.1 Đầu báo khói: (Smoke Detector)
- Là thiết bị giám sát trực tiếp, phát hiện ra dấu hiệu khói để chuyển các tín hiệu khói về trung tâm xử lý. Thời gian các đầu báo khói nhận và truyền thông tin đến trung tâm báo cháy không quá 30s. Mật độ môi trường từ 15% đến 20%. Nếu nồng độ của khói trong môi trường tại khu vực vượt qua ngưỡng cho phép (10% -20%) thì thiết bị sẽ phát tín hiệu báo động về trung tâm để xử lý.
- Các đầu báo khói thường được bố trí tại các phòng làm việc, hội trường, các kho quỹ, các khu vực có mật độ không gian kín và các chất gây cháy thường tạo khói trước.

Đầu báo khói được chia làm 2 loại chính như sau :

2.1.1.1 Đầu báo khói dạng điểm.
Được lắp tại các khu vực mà phạm vi giám sát nhỏ, trần nhà thấp (văn phòng, chung cư …)
a. Đầu báo khói Ion : Thiết bị tạo ra các dòng ion dương và ion âm chuyển động, khi có khói, khói sẽ làm cản trở chuyển động của các ion dương và ion âm, từ đó thiết bị sẽ gởi tín hiệu báo cháy về trung tâm xử lý.
b. Đầu báo khói Quang (photo): Thiết bị bao gồm một cặp đầu báo (một đầu tín hiệu, một đầu thu tín hiệu) bố trí đối nhau, khi có khói xen giữa 2 đầu báo, khói sẽ làm cản trở đường truyền tín hiệu giữa 2 đầu báo, từ đó đầu báo sẽ gởi tín hiệu báo cháy về trung tâm xử lý.

2.1.1.2 Đầu báo khói dạng Beam
- Gồm một cặp thiết bị được lắp ở hai đầu của khu vực cần giám sát. Thiết bị chiếu phát chiếu một chùm tia hồng ngoại, qua khu vực thuộc phạm vi giám sát rồi tới một thiết bị nhận có chứa một tế bào cảm quang có nhiệm vụ theo dõi sự cân bằng tín hiệu của chùm tia sáng. Đầu báo này hoạt động trên nguyên lý làm mờ ánh sáng đối nghịch với nguyên lý tán xạ ánh sáng (cảm ứng khói ngay tại đầu báo).
- Đầu báo khói loại Beam có tầm hoạt động rất rộng (15m x 100m), sử dụng thích hợp tại những khu vực mà các loại đầu báo khói quang điện tỏ ra không thích hợp, chẳng hạn như tại những nơi mà đám khói tiên liệu là sẽ có khói màu đen.
- Hơn nữa đầu báo loại Beam có thể đương đầu với tình trạng khắc nghiệt về nhiệt độ, bụi bặm, độ ẩm quá mức, nhiều tạp chất,… Do đầu báo dạng Beam có thể đặt đằng sau cửa sổ có kiếng trong, nên rất dễ lau chùi, bảo quản.
- Đầu báo dạng Beam thường được lắp trong khu vực có phạm vi giám sát lớn, trần nhà quá cao không thể lắp các đầu báo điểm (các nhà xưởng, …)



2.1.2 Đầu báo nhiệt: (Heat Detector)
- Đầu báo nhiệt là loại dùng để dò nhiệt độ của môi trường trong phạm vi bảo vệ , khi nhiệt độ của môi trường không thỏa mãn những quy định của các đầu báo nhiệt do nhà sản xuất quy định, thì nó sẽ phát tín hiệu báo động gởi về trung tâm xử lý.
- Các đầu báo nhiệt được lắp đặt ở những nơi không thể lắp được đầu báo khói (nơi chứa thiết bị máy móc, Garage, các buồng điện động lực, nhà máy, nhà bếp,…)

2.1.2.1 Đầu báo nhiệt cố định
Là loại đầu báo bị kích hoạt và phát tín hiệu báo động khi cảm ứng nhiệt độ trong bầu không khí chung quanh đầu báo tăng lên ở mức độ nhà sản xuất quy định (57o, 70o, 100o…)

2.1.2.2 Đầu báo nhiệt gia tăng

Là loại đầu báo bị kích hoạt và phát tín hiệu báo động khi cảm ứng hiện tượng bầu không khí chung quanh đầu báo gia tăng nhiệt độ đột ngột khoảng 9oC / phút

2.1.3 Đầu báo ga (Gas Detector)
- Là thiết bị trực tiếp giám sát, phát hiện dấu hiệu có gas khi tỉ lệ gas tập trung vượt quá mức 0.503% (Propane/ Butane) và gởi tín hiệu báo động về trung tâm xử lý.
- Các đầu báo gas thường được bố trí trong khoảng gần nơi có gas như các phòng vô gas hay các kho chứa gas. Các đầu báo gas được lắp trên tường, cách sàn nhà từ 10-16cm, tuyệt đối không được phép lắp đặt dưới sàn nhà.

Đầu báo lửa (Flame Detector)

- Là thiết bị cảm ứng các tia cực tím phát ra từ ngọn lửa, nhận tín hiệu, rồi gởi tín hiệu báo động về trung tâm xử lý khi phát hiện lửa.
- Được sử dụng chủ yếu ở các nơi xét thấy có sự nguy hiểm cao độ, những nơi mà ánh sáng của ngọn lửa là dấu hiệu tiêu biểu cho sự cháy (ví như kho chứa chất lỏng dễ cháy).
- Đầu báo lửa rất nhạy cảm đối với các tia cực tím và đã được nghiên cứu tỉ mỉ để tránh tình trạng báo giả. Đầu dò chỉ phát tín hiệu báo động về trung tâm báo cháy khi có 2 xung cảm ứng tia cực tím sau 2 khoảng thời gian, mỗi thời kỳ là 5s.

2.2- Công tắc khẩn (Emergency breaker)
Được lắp đặt tại những nơi dễ thấy của hành lang các cầu thang để sử dụng khi cần thiết. Thiết bị này cho phép người sử dụng chủ động truyền thông tin báo cháy bằng cách nhấn hoặc kéo vào công tắc khẩn, báo động khẩn cấp cho mọi người đang hiện diện trong khu vực đó được biết để có biện pháp xử lý hỏa hoạn và di chuyển ra khỏi khu vực nguy hiểm bằng các lối thoát hiểm. Gồm có các loại công tắc khẩn như sau:
2.2.1 Khẩn tròn, vuông
2.2.2 Khẩn kính vỡ (break glass)
2.2.3 Khẩn giật

Thiết bị đầu ra:

Nhận tín hiệu từ trung tâm báo cháy truyền đến và có tính năng phát đi các thông tin bằng âm thanh (chuông, còi), bằng tín hiệu phát sáng (đèn) giúp mọi người nhận biết đang có hiện tượng cháy xảy ra.

3.1 Bảng hiện thị phụ
Hiển thị thông tin các khu vực xảy ra sự cố từ trung tâm báo cháy truyền đến, giúp nhận biết tình trạng nơi xảy ra sự cố để xử lý kịp thời.



3.2 Chuông báo cháy
Được lắp đặt tại phòng bảo vệ, các phòng có nhân viên trực ban, hành lang, cầu thang hoặc những nơi đông người qua lại nhằm thông báo cho những người xung quanh có thể biết được sự cố đang xảy ra để có phương án xử lý, di tản kịp thời.
Khi xảy ra sự cố hỏa hoạn, chuông báo động sẽ phát tín hiệu báo động giúp cho nhân viên bảo vệ nhận biết và thông qua thiết bị theo dõi sự cố hỏa hoạn (bảng hiển thị phụ) sẽ biết khu vực nào xảy ra hỏa hoạn, từ đó thông báo kịp thời đến các nhân viên có trách nhiệm phòng cháy chữa cháy khắc phục sự cố hoặc có biện pháp xử lý thích hợp.

3.3 Còi báo cháy
Có tính năng và vị trí lắp đặt giống như chuông báo cháy, tuy nhiên còi được sử dụng khi khoảng cách giữa nơi phát thông báo đến nơi cần nhận thông báo báo động quá xa.

Quy trình hoạt động của hệ thống báo cháy, báo khói là một quy trình khép kín. Khi có hiện tượng về sự cháy (chẳng hạn như nhiệt độ gia tăng đột ngột, có sự xuất hiện của khói hoặc các tia lửa) các thiết bị đầu vào (đầu báo, công tắc khẩn) nhận tín hiệu và truyền thông tin của sự cố về trung tâm báo cháy. Tại đây trung tâm sẽ xử lý thông tin nhận được, xác định vị trí nơi xảy ra sự cháy (thông qua các zone) và truyền thông tin đến các thiết bị đầu ra (bảng hiển thị phụ,

Hình Ảnh